Xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 – 2025, sau 4 năm triển khai đã hình thành rõ nét, phát triển cả về diện tích và chất lượng, khẳng định xu hướng tổ chức lại sản xuất hướng tới nông nghiệp hàng hóa, cạnh tranh và bền vững.

Kết quả tích cực

Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025, theo Quyết định 1088/QĐ-BNN-KTHT với mục tiêu xây dựng 5 vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn tại 11 tỉnh; mở rộng vùng nguyên liệu cà phê Tây Nguyên tại Đắk Nông và Kon Tum; xây dựng 5 trung tâm sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics hỗ trợ hợp tác xã phát triển vùng nguyên liệu. Tổng kinh phí huy động thực hiện đạt 2.975 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân hơn 72%.

Hiện, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt 169.800 ha, tăng 33.800 ha (tăng 20%) so với trước dự án 136.000 ha. Trong đó, diện tích vùng nguyên liệu có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha (chiếm 71,2% tổng diện tích vùng nguyên liệu); so với thời điểm trước khi triển khai Đề án chỉ đạt 17.000 ha. Hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, công trình thủy lợi, công trình bảo quản nông sản đã được đầu tư xây dựng đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Đặc biệt, trong giai đoạn triển khai Đề án, các địa phương đã đẩy mạnh 2 cấp và quản lý mã số vùng trồng làm cơ sở xuất khẩu chính ngạch. 

Mô hình trồng Dứa Queen tại xã Chiềng Sung phục vụ Trung tâm chế biến rau quả Doveco Sơn La.

Điển hình là xây dựng vùng nguyên liệu cây ăn quả ở Sơn La. Ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, tỉnh đã triển khai khá tốt về vùng nguyên liệu cây ăn quả: mở rộng diện tích áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất, chứng nhận vùng trồng xuất khẩu, liên kết hợp tác xã/doanh nghiệp; phát triển nhiều vùng nguyên liệu tập trung, việc cấp mã số vùng trồng, xây dựng HTX, ứng dụng mô hình sản xuất an toàn đáp ứng các tiêu chuẩn như VietGAP và tương đương được triển khai, mang lại hiệu quả nhất định như năng suất cao hơn, nhiều sản phẩm được thị trường chấp.

Đến nay, tỉnh đã hỗ trợ đầu tư tuyến đường giao thông kết nối vùng sản xuất tại xã Chiềng Sung; xây dựng các mô hình thâm canh xoài, dứa, chanh leo theo tiêu chuẩn VietGAP, với tổng diện tích 85 ha. Toàn tỉnh hiện có trên 85.000 ha cây ăn quả, sản lượng ước đạt 510.000 tấn; duy trì 262 chuỗi cung ứng nông sản an toàn; cấp và quản lý 214 mã số vùng trồng, trong đó 202 mã số phục vụ xuất khẩu. Sơn La cũng thu hút nhiều nhà máy chế biến nông sản quy mô lớn, giải quyết được một phần bài toán về tiêu thụ nông sản cho người dân, hình thành nhiều mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người dân trong chuỗi giá trị sản xuất giúp người dân yên tâm sản xuất; giải quyết được lao động cho địa phương. 

Tiếp đến là các tỉnh Tây Ninh (Long An trước kia) được phê duyệt 35 mã số, diện tích 592,6 ha; tỉnh Đồng Tháp (Tiền Giang trước kia) cấp 350 mã số vùng trồng, diện tích 20.584 ha (37,2% diện tích chủ lực); tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì các mã số FSC/CoC gắn với chuỗi gỗ lớn phục vụ xuất khẩu; tỉnh Đắk Lắk tăng số vùng cà phê đạt chứng nhận chỉ dẫn địa lý và tiêu chuẩn xuất khẩu, qua đó mở rộng mã vùng nguyên liệu theo chuỗi cà phê đặc sản. Việc cấp mã số vùng trồng đã góp phần đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt của các thị trường (Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, New Zealand,…), nâng cao tính minh bạch và chuẩn hóa sản xuất vùng nguyên liệu. 

Vùng trồng cà phê đạt chuẩn để nâng tầm vị thế, bảo đảm sự phát triển bền vững. 

Tại các vùng nguyên liệu, đã có 393 HTX được thành lập hoặc kiện toàn; hơn 5.500 lượt cán bộ, thành viên HTX được đào tạo, ứng dụng quản lý và truy xuất nguồn gốc. Mô hình khuyến nông cộng đồng tiếp tục phát huy hiệu quả với 635 tổ được thành lập, hỗ trợ nông dân áp dụng quy trình sản xuất an toàn. Đến hết năm 2025, các địa phương đã xây dựng trên 90 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ, với sự tham gia của 27 doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị và tính bền vững của vùng nguyên liệu.

Tiếp tục nhân rộng và phát triển các vùng nguyên liệu nông sản hàng hóa theo hướng bền vững

Từ kết quả đã đạt được, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Nguyễn Thành Công kiến nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần quan tâm hỗ trợ kinh phí cho tỉnh thực hiện theo danh mục các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng hỗ trợ hợp tác xã phát triển vùng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh Sơn La đã đề xuất; hỗ trợ tỉnh xây dựng đầu tư hạ tầng như đường nội đồng, kho lạnh, nhà sơ chế, hệ thống tưới tiết kiệm phục vụ sản xuất; quan tâm, ưu tiên bố trí nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, chuyển đổi số nông nghiệp… để đầu tư hỗ trợ phát triển vùng cây ăn quả tập trung, gắn với chế biến ở Sơn La.

Tại Hội nghị tổng kết Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 - 2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đánh giá cao những kết quả đạt được trong quá trình triển khai Đề án. Theo Thứ trưởng, giai đoạn tới, các địa phương cần tiếp tục quan tâm và mở rộng đề án, tập trung vào cây trồng chủ lực, với ba nội dung trọng tâm.

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch và diện tích với khoảng 160.000 ha dự án thí điểm cần được triển khai đồng bộ, đảm bảo hiệu quả cao.

Thứ hai, triển khai mã số vùng trồng, theo đó, hỗ trợ hợp tác xã và doanh nghiệp quản lý diện tích, phục vụ truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu. 

Thứ ba, ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, sản xuất, liên kết vùng trồng và kết nối thị trường.

Về hạ tầng, Bộ đã hỗ trợ hơn 400 tỷ đồng cho giao thông và thủy lợi, tạo hiệu quả gấp nhiều lần vốn đầu tư, chưa kể nguồn lực từ doanh nghiệp và hợp tác xã. Để bền vững, việc quản lý và thực hành canh tác theo tiêu chuẩn quốc tế và trong nước là cần thiết. Đồng thời, tiếp tục củng cố năng lực nông dân, mở rộng số lượng hợp tác xã tham gia và hoàn thiện các tiêu chuẩn sản xuất theo hướng GAP.

Thứ trưởng nhấn mạnh, an sinh xã hội là yếu tố không thể tách rời. Các chính sách bảo hiểm cây trồng, vật nuôi và hỗ trợ đời sống sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, gắn với tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Trong quan hệ với doanh nghiệp, vùng nguyên liệu đạt chuẩn giúp doanh nghiệp xác định rõ diện tích và nguồn gốc, yên tâm đầu tư mà không cần mua đất trực tiếp. Hợp tác xã và hạ tầng địa phương đảm bảo sản xuất, tạo chuỗi liên kết ổn định từ sản xuất đến xuất khẩu, đồng thời nâng cao giá trị thương hiệu nông sản.

Để tiếp nối thành công giai đoạn thí điểm, Thứ trưởng Trần Thanh Nam đề nghị xây dựng Đề án dài hạn 2026–2030, định hướng ổn định quy hoạch, nhân rộng vùng nguyên liệu, đồng bộ cơ chế, nội dung và triển khai với sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

Theo Thứ trưởng, việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn không chỉ tạo cơ sở để doanh nghiệp yên tâm đầu tư mà còn nâng cao giá trị xuất khẩu, bảo vệ thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đồng thời, đề án dài hạn sẽ củng cố liên kết HTX, doanh nghiệp, nông dân, nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí, tăng năng suất và đảm bảo an sinh xã hội.

“Đây là cơ hội để nhân rộng mô hình vùng nguyên liệu chuẩn, góp phần phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao giá trị xuất khẩu và đưa nông sản Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế trong những năm tới”, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh.

Theo Kinh Tế Nông Thôn 

← Bài trước Bài sau →
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Bình luận