“Chảy máu” nguyên liệu và những lo ngại của doanh nghiệp xuất khẩu dừa

“Chảy máu” nguyên liệu và những lo ngại của doanh nghiệp xuất khẩu dừa

Theo Hiệp hội Dừa Việt Nam, nước ta đang là nước xuất khẩu dừa lớn thứ 5 thế giới và đứng thứ 4 tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với kim ngạch năm 2024 đạt gần 1,1 tỉ USD.

Nhập khẩu dừa khô tăng đột biến khi giá nguyên liệu tăng cao.

Nhập khẩu các sản phẩm từ dừa, tăng vọt

Tuy nhiên, theo số liệu từ Hiệp hội Rau quả Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2025 nước ta đã chi 7,2 triệu USD (tương đương khoảng 183 tỉ đồng) để nhập khẩu các sản phẩm từ dừa, tăng vọt 1.031% so với cùng kỳ 2024. Đây là mức tăng đột biến, khiến dừa trở thành một trong 13 loại quả có kim ngạch nhập khẩu cao nhất trong khoảng thời gian này.

Ông Đặng Phúc Nguyên - Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, thị trường Mỹ, EU, đặc biệt Trung Quốc đang tăng lượng nhập khẩu dừa tươi, dừa nguyên liệu, các sản phẩm chế biến từ dừa của Việt Nam, nhưng nguồn nguyên liệu của chúng ta có thời điểm không đủ, buộc tăng nhập khẩu.

"Thời điểm này là mùa hè tại một số quốc gia như Mỹ, Trung Quốc nên việc sử dụng dừa giải khát tăng mạnh, chưa kể Việt Nam chính thức xuất khẩu dừa tươi sang Trung Quốc với lượng tăng mạnh. Những điều này góp phần khiến nguồn cung thiếu, phải nhập thêm, đặc biệt cho mảng chế biến", ông Nguyên lý giải.

Đại diện Hiệp hội Dừa Việt Nam cho biết, việc xuất khẩu dừa tươi và các sản phẩm từ dừa ngày càng mở rộng, nhưng các doanh nghiệp đang thiếu nguyên liệu nên phải nhập khẩu nước dừa, cơm dừa, dừa khô... từ một số quốc gia như Indonesia, Philippines, Thái Lan, Sri Lanka, trong đó chủ đạo là Indonesia.

"Thời điểm dừa treo (ra ít trái) thường tập trung vào tháng 9-10 với dừa cao và tháng 3-4 với dừa lùn, những thời điểm này thường khiến nguồn cung khan hiếm hơn", vị đại diện cho biết.

Nhiều doanh nghiệp cho biết đang đẩy mạnh sản xuất để xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị cao như sữa dừa, than hoạt tính từ dừa, dầu dừa, thạch dừa... Tuy nhiên, để đáp ứng đơn hàng, các đơn vị này lại phải tăng nhập nguyên liệu với giá cao do nguồn cung trong nước không đủ.

Nỗi lo nguồn nguyên liệu “chảy máu”

Nhiều nhà vườn ở ĐBSCL cho biết, giá dừa tăng cao do nguồn cung sụt giảm khi nhiều diện tích bị ảnh hưởng bởi hạn mặn những năm trước và sâu bệnh trong giai đoạn trổ buồng. Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) đẩy mạnh thu mua dừa để phục vụ xuất khẩu (XK) thô khiến thị trường dừa càng thêm khan hiếm.

Về yếu tố tăng giá dừa khô, giới phân tích cho rằng kể từ khi XK chính ngạch vào Trung Quốc, dừa khô bị thị trường này hút sạch, khiến giá tăng lên mức 100.0000 đồng/chục.

Thông tin từ Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre thì hiện có khoảng 40-50% sản lượng dừa của địa phương được XK dạng thô ra nước ngoài.

Điều đáng nói, như lưu ý của ông Cao Bá Ðăng Khoa, Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, vấn đề khá nan giải hiện nay mà ngành dừa đối mặt là giá dừa ở mức cao nhưng hàng loạt nhà máy chế biến các sản phẩm từ dừa phục vụ XK đang khốn đốn bởi tình trạng thiếu dừa trong khi số lượng lớn dừa nguyên liệu được XK thô ra nước ngoài.

Thực tế, theo ông Khao, nguồn nguyên liệu dừa của Việt Nam ngày càng bị “chảy máu” ra nước ngoài khá lớn, làm cho các nhà máy trong nước không đủ dừa chế biến sâu, ảnh hưởng các hợp đồng XK và tạo việc làm cho nhiều công nhân ở các nhà máy.

Như thông tin từ Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre thì hiện có khoảng 40-50% sản lượng dừa của địa phương được XK dạng thô ra nước ngoài (nhiều nhất là Trung Quốc), từ đó khiến hàng loạt nhà máy chế biến dừa phải giảm công suất hoạt động, thậm chí chạy cầm chừng do thiếu trầm trọng nguyên liệu.     

Trong một số hội thảo trước đây của ngành dừa, hiệp hội này từng có đề nghị xem xét lại chính sách XK dừa trái thô, nguyên liệu thô từ dừa. Điều đó cũng nhằm bảo vệ tài nguyên cho công nghiệp chế biến dừa trong nước, nâng giá trị gia tăng từ dừa, tăng kim ngạch XK. Bởi lẽ, với chính sách XK nguyên liệu dừa thô như hiện nay thì mục tiêu kim ngạch XK và các chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến từ dừa sẽ khó thành công.

Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre cũng cho rằng, thách thức lớn nhất đã bộc lộ là ngành dừa đang đứng trước tác động của cơ chế thị trường. Như tỉnh Bến Tre đã không ít lần đối mặt với thách thức này, dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý nguồn nguyên liệu, duy trì sự ổn định về giá cả.

Xét về chính sách XK dừa, ông Cao Bá Ðăng Khoa cho rằng nên áp thuế dừa nguyên liệu XK dạng thô chưa qua chế biến như, dừa đã qua công đoạn làm khô mức thuế 5%; dừa còn nguyên sọ mức thuế 5%. Điều này nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu dừa phục vụ chế biến sâu ở các nhà máy trong nước nhằm nâng cao giá trị.

Nên nhắc lại, số liệu XK dừa tính riêng hồi quý 1/2025 đã đạt 51,2 triệu USD (tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2024). Trong khi đó, do thiếu nguyên liệu trong nước nên trong 4 tháng đầu của năm 2025 các DN chế biến đã nhập khẩu số lượng lớn dừa nguyên liệu với kim ngạch 7,2 triệu USD (tăng đến 1.030% cùng kỳ năm 2024).

Như chia sẻ của ông Cao Bá Ðăng Khoa, thời gian qua nhiều DN ở ÐBSCL nhập khẩu dừa nguyên liệu từ Indonesia để sản xuất dù chịu thiệt thòi với các khoản chi phí vận chuyển. Thế nhưng phía Chính phủ Indonesia đang nghiên cứu áp thuế 80% với dừa nguyên liệu XK nhằm ưu tiên nguyên liệu cho các nhà máy trong nước.

Doanh nghiệp đang gấp rút hoàn thiện nhà máy chế biến dừa tươi để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Không chỉ có Indonesia, các quốc gia như Philippines, Malaysia đang thực hành chính sách cấm XK dừa nguyên liệu nhằm ưu tiên cho DN trong nước sản xuất ổn định. Mặt khác, thời gian qua có nhiều DN sản xuất sản phẩm dừa chế biến sâu ở Ấn Ðộ, Israel, Pakistan và kể cả Thái Lan đã so sánh lợi thế lâu dài về giá dừa nguyên liệu giữa Indonesia và Việt Nam và chuyển sang nhập khẩu dừa nguyên liệu của Việt Nam.

Cho nên đó là vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách cần lưu tâm để tránh tiếp tục “chảy máu” XK dừa nguyên liệu khi mà các nhà máy chế biến trong nước ngày càng trở nên khan hiếm dừa nguyên liệu chế biến và phải nhập khẩu ngược.

Có thể thấy đây cũng là bài học đắt giá cho một số ngành hàng nông sản khi vẫn còn tình trạng “lơi lỏng” XK thô.

Nêu ra một số vấn đề thiếu hụt nguyên liệu từ câu chuyện của ngành dừa để thấy nếu còn tiếp tục “tầm nhìn ngắn hạn”, chạy theo thành tích XK thô thì sẽ còn nhiều bài học đắt giá cho ngành nông sản Việt. Lẽ đương nhiên, khâu chính sách không thể đứng bên lề trước khúc mắc của các DN chế biến về việc “chảy máu” nông sản thô.

Chủ động tăng mạnh khâu chế biến sâu

Ghi nhận tại nhiều khu vực, hiện giá dừa khô nguyên liệu bán sỉ đang ở mức phổ biến 190.000 - 215.000 đồng/chục 12 trái, tăng 2 - 2,5 lần so với mức giá thấp năm ngoái. Còn với dừa tươi, do xuất khẩu tốt nên giá trong nước hiện cũng khá cao với khoảng trên dưới 150.000 đồng/chục 12 trái.

Việt Nam cần chủ động tăng mạnh khâu chế biến sâu, mở rộng thị trường... để ngành dừa phát triển bền vững.

Mức giá cao khiến nhiều nông dân ở khu vực Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Bộ... đổ xô trồng dừa, đẩy giá dừa giống tăng mạnh, phổ biến 45.000 - 90.000 đồng/cây tùy loại, gấp đôi năm ngoái.

Nhiều chuyên gia cho biết ngoài Việt Nam, một số quốc gia như Thái Lan, Philippines... cũng tăng mạnh trồng dừa, dẫn đến lo ngại về việc cung vượt cầu trong tương lai.

Tuy vậy, ông Nguyên cho rằng giống dừa lùn phải trồng 4 năm trở lên mới cho trái nhiều, dừa cao thì lâu hơn, trong khi nhu cầu với dừa tươi và các sản phẩm từ dừa ngày càng nhiều, nhiều nước tăng mạnh nhập khẩu để chế biến làm lương thực, mỹ phẩm...

"Khả năng giá dừa vẫn ở mức tốt so với các năm trước, ít nhất trong ngắn hạn. Tuy vậy với việc nhiều quốc gia cùng tăng diện tích, Việt Nam cần chủ động tăng mạnh khâu chế biến sâu, mở rộng thị trường... để ngành dừa phát triển bền vững", ông Nguyên nhận định.

Nhiều chuyên gia cho rằng hạn chế hiện nay của xuất khẩu dừa tươi vẫn là công nghệ bảo quản chưa phát triển mạnh, nên việc xuất đi những thị trường xa như Mỹ, châu Âu... chưa được nhiều như kỳ vọng./.

Theo Kinh Tế Nông Thôn 

← Bài trước Bài sau →
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Bình luận