“Cầu nối” đưa sản phẩm OCOP đến với người tiêu dùng

“Cầu nối” đưa sản phẩm OCOP đến với người tiêu dùng

Các sản phẩm OCOP vẫn đang gặp khó trong khâu tiêu thụ. Theo các chuyên gia, để sản phẩm OCOP được khách hàng biết tới nhiều hơn, đòi hỏi ngành công thương cần làm tốt chức năng “cầu nối” giữa nhà sản xuất với doanh nghiệp.

Điểm yếu của các chủ thể OCOP

Những năm qua, TP. Hà Nội đã có nhiều chương trình, giải pháp để xây dựng, phát triển,… các sản phẩm OCOP. Tuy nhiên, dù có tới 3.317 sản phẩm OCOP, chiếm 21,3% của cả nước, nhưng để giải quyết đầu ra, đưa các sản phẩm OCOP vươn xa, thông qua kệ hàng của các kênh bán lẻ hiện đại, vẫn là một bài toán nan giải…

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) được đánh giá như một “luồng gió mới” trong phát triển kinh tế nông thôn cả nước và đặc biệt là phát triển các làng nghề đặc thù tại Hà Nội. Theo số liệu thống kê của Sở Công Thương Hà Nội cho thấy, Hà Nội là địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng sản phẩm OCOP, khi có tới 3.317 sản phẩm OCOP (chiếm 21,3% của cả nước), trong đó có 6 sản phẩm 5 sao, 22 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 1.571 sản phẩm 4 sao và 1.718 sản phẩm 3 sao.

Tuy nhiên, điều đáng nói, là các sản phẩm OCOP vẫn đang gặp khó trong khâu tiêu thụ, đặc biệt là việc đưa sản phẩm OCOP vào các kênh bán lẻ hiện đại.

Cụ thể, thông tin trước báo chí mới đây, ông Nguyễn Thế Hiệp, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội cho biết: Hà Nội có hạ tầng thương mại phát triển tương đối mạnh mẽ với 29 trung tâm thương mại, 130 siêu thị, 455 chợ truyền thống, trên 2.000 cửa hàng tiện ích; 1.085 cửa hàng kinh doanh trái cây an toàn; 107 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, trên 400 sàn thương mại điện tử... hàng năm hỗ trợ kết nối, tiêu thụ khoảng 500.000 tấn sản phẩm nông sản, OCOP từ các tỉnh, thành phố phục vụ cân đối cung cầu trên địa bàn Thủ đô.

Dù vậy, theo phản ánh của các doanh nghiệp, việc đưa các sản phẩm OCOP vào siêu thị cũng như tiêu thụ các sản phẩm này vẫn gặp khó khăn nhất định.

Thực tế cho thấy, những đánh giá của Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội là hoàn toàn sát với thực tế. Đơn cử, theo ông Đàm Văn Đua, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp Đông Cao (huyện Mê Linh) cho biết, hiện đơn vị có 200 ha sản xuất 60.000 tấn rau/năm, nhưng việc tiêu thụ rau của Hợp tác xã vẫn chủ yếu thông qua hệ thống chợ truyền thống, chưa đưa được hàng vào siêu thị tiêu thụ…

Tương tự, đại diện Công ty CP Sữa Con Bò Vàng (huyện Ba Vì) cũng chia sẻ, hiện doanh nghiệm có hơn 10 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao, nhưng việc tiêu thụ vẫn chủ yếu qua các cửa hàng nhỏ lẻ, chưa tiếp cận được các hệ thống siêu thị. Nguyên nhân là, để đưa hàng vào hệ thống siêu thị, thì doanh nghiệp phải mất phí mở mã vạch, phải ký gửi hàng hoá và thanh toán theo từng đợt…

Nhận định về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc siêu thị Co.op Mart Hà Đông (Hà Nội) cho hay: Hệ thống bán lẻ Co.op Mart hiện đang bầy bán hơn 130 mặt hàng OCOP. Tuy nhiên, để sản phẩm OCOP vào được siêu thị, nhà sản xuất buộc phải đáp ứng những yêu cầu về quy trình vào hàng, chất lượng và khâu thanh toán... Đây lại là điểm yếu của các chủ thể OCOP.

Theo các chuyên gia nhận định, để các sản phẩm OCOP vươn xa, đòi hỏi ngành công thương cần làm tốt chức năng “cầu nối” giữa nhà sản xuất với doanh nghiệp bán lẻ. (Ảnh: Đỗ Đạt)

Theo ông Nguyễn Anh Đức, Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam nhận định, sản phẩm OCOP thường được sản xuất theo nhỏ lẻ theo mùa vụ, nên không đáp ứng được số lượng lớn cho hệ thống siêu thị. Đồng thời, cơ sở sản xuất chưa có đầy đủ hồ sơ truy xuất nguồn gốc, nên khó đáp ứng được quy định của các đơn hàng lớn cho doanh nghiệp bán lẻ.

Bên cạnh đó, do năng lực quản trị của các chủ thể OCOP yếu, thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, sự hiểu biết của một số chủ thể sản xuất về quản lý chất lượng sản phẩm còn hạn chế; khâu quảng bá, tiêu thụ sản phẩm OCOP chưa được các doanh nghiệp chú trọng..., là những lý do khiến người tiêu dùng đánh đồng chất lượng sản phẩm OCOP, với những mặt hàng tương tự chưa được gắn sao OCOP…

Cũng theo bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc siêu thị Co.op Mart Hà Đông nhận định: “Thực tế tiêu thụ sản phẩm OCOP cho thấy, để sản phẩm OCOP được khách hàng biết tới nhiều hơn, thì bên cạnh tập trung vào đảm bảo chất lượng, sản lượng sản phẩm, doanh nghiệp cũng cần chú trọng vào thiết kế bao bì theo hướng bắt mắt, thu hút khách hàng, mà thông qua đó người tiêu dùng có thể hiểu được câu chuyện về sản phẩm, tạo sự khác biệt với sản phẩm OCOP của vùng miền khác…’.

Theo các chuyên gia bán lẻ, để sản phẩm OCOP được khách hàng biết tới nhiều hơn, đòi hỏi ngành công thương cần làm tốt chức năng “cầu nối” giữa nhà sản xuất với doanh nghiệp bán lẻ.

Theo Bà Trần Phương Lan, Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam cho rằng: Có 3 điểm người sản xuất cần lưu ý để các sản phẩm vào được hệ thống phân phối hiện đại. Thứ nhất, là cần sản xuất đúng chất lượng như VietGAP, Global GAP....; Thứ hai, là phải làm sao để kéo giảm chi phí logistics; thời điểm dịch bệnh, bão lũ đảm bảo hàng hóa cho người dân, siêu thị...; Thứ ba, là cần ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất hàng hóa. Hệ thống phân phối phải truy xuất được nguồn gốc sản phẩm. Có như vậy mới bán được hàng.

Bên cạnh đó, đối với các hệ thống phân phối, cần đưa ra những quy định cụ thể để doanh nghiệp, hợp tác xã nghiên cứu và thực hiện, đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông để người tiêu dùng được biết.

“Đây là sự hợp tác 2 chiều, người sản xuất cần đầu ra, các nhà bán lẻ cần đầu vào nên phải cùng nhau làm. Phải có sự nỗ lực từ 2 phía…”, bà Lan nhấn mạnh.

Nhằm hỗ trợ các chủ thể OCOP phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, ông Nguyễn Mạnh Quyền, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội cho biết, thành phố đã ban hành Kế hoạch số 389/KH-UBND về việc Phát triển Trung tâm thiết kế, sáng tạo, giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm OCOP, làng nghề gắn với du lịch tại các huyện, thị xã trên địa bàn TP. Hà Nội năm 2025.

Theo đó, trong năm 2025 TP. Hà Nội sẽ Phát triển thêm mới từ 8 - 10 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP, công nhận từ 5 - 8 mô hình Trung tâm Thiết kế sáng tạo, giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm OCOP. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm OCOP, triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc, trưng bày, kết nối tiêu thụ sản phẩm OCOP trên các sàn giao dịch thương mại điện tử...

Nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu và mở rộng thị trường

Đổi mới công nghệ, đầu tư máy móc hiện đại, xây dựng vùng nguyên liệu an toàn, cải tiến mẫu mã bao bì... là những giải pháp mà các chủ thể sản phẩm OCOP trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

Quy trình tráng bánh tự động, làm ra sản phẩm bánh cuốn Nam Bình được xếp hạng OCOP 3 sao tại xã Thiệu Thành.

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) được triển khai tại huyện Thiệu Hóa đã phát huy hiệu quả trong việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Từ đó hình thành và phát triển các sản phẩm đặc trưng có giá trị kinh tế cao, có nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có sức cạnh tranh trên thị trường.

Trong hành trình nâng tầm sản phẩm, các chủ thể đã áp dụng công nghệ, các quy trình sản xuất hiện đại, thân thiện với môi trường, từ đó hình thành nhiều mô hình sản xuất theo hướng nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, tạo chuyển biến rõ rệt cả về chất lượng sản phẩm lẫn quy mô sản xuất. Các chủ thể cũng xác định khoa học kỹ thuật (KHKT) chính là “chìa khóa” then chốt giúp các sản phẩm OCOP của huyện vươn xa, là một trong những điều kiện để sản phẩm được bày bán tại các siêu thị, hệ thống phân phối. Một số sản phẩm OCOP được xếp hạng 3 sao trở lên đã tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng, như: cơm cháy Ánh Dương, dưa vàng Vạn Hà, gạo Vân Đài, bánh đa Ngọc Nhạn, trống đồng Toàn Linh, bánh lá Hoàng Hà...

Chia sẻ về quá trình xây dựng thương hiệu sản phẩm tỏi đen Suzin, chị Hoàng Thị Loan, ở thị trấn Thiệu Hóa, cho biết: "Ban đầu, khi tìm hiểu về quy trình lên men tỏi, tôi dùng nồi cơm điện ủ từ 12 đến 15 ngày. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất thủ công, tôi phải dành nhiều thời gian để điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm cho phù hợp, nếu không tỏi tươi sẽ không thành tỏi đen; không ít lần sản phẩm chất lượng kém, không tiêu thụ được. Vì vậy, khi sản phẩm được nhiều người biết đến và tiêu thụ nhiều hơn, tôi đã mạnh dạn đầu tư gần 2 tỷ đồng để lắp đặt 4 máy sấy lên men, sấy dẻo tự động, tủ mát bảo quản, quạt công nghiệp... Theo chị Loan, sử dụng hệ thống máy móc tự động tiết kiệm được chi phí thuê nhân công, thời gian sản xuất; nhất là nhiệt độ đã được cài đặt sẵn nên sản phẩm làm ra đạt chất lượng như nhau, những củ tỏi có vỏ chuyển màu nâu, tép tỏi màu đen tuyền, vị ngọt, chua dịu, dẻo và có hương thơm dễ chịu. Hiện nay, sản phẩm tỏi đen Suzin của chị Loan đã được tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng kinh doanh thực phẩm an toàn tại các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội... Sau khi được công nhận sản phẩm OCOP với bao bì, tem mác đúng quy chuẩn, sản phẩm được huyện lựa chọn đưa vào tiêu thụ tại hệ thống Siêu thị The City.

Không chỉ riêng tỏi đen Suzin, nhiều chủ thể khác trên địa bàn huyện cũng đang tích cực ứng dụng KHKT vào sản xuất, từ khâu chọn nguyên liệu, chế biến, đóng gói đến truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Sự chủ động này không chỉ nâng cao chất lượng, mà còn giúp sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường hiện đại. Ông Đỗ Tuấn Nam, cơ sở sản xuất bánh cuốn Nam Bình được xếp hạng sản phẩm OCOP 3 sao tại xã Thiệu Thành, cho biết: “Sau khi chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang áp dụng KHKT với máy tráng bánh tự động, máy xay bột..., cơ sở sản xuất của tôi đã giảm khá nhiều chi phí thuê nhân công tráng bánh. Bên cạnh đó, giải quyết được tình trạng khách hàng phải đợi lâu, không đủ sản phẩm để bán trong những dịp lễ, tết. Với quy trình được tối ưu hóa, bột làm bánh nhuyễn, mịn, bánh được tráng tự động đều, mỏng, mịn, hương vị không bị thay đổi, năng suất tăng gấp 10 lần”.

Hiện nay, huyện Thiệu Hóa có 31 sản phẩm OCOP, trong đó có 5 sản phẩm được xếp hạng 4 sao, 26 sản phẩm xếp hạng 3 sao. Ông Trịnh Đức Hùng, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Thiệu Hóa, cho biết: Sau khi xác định các sản phẩm có thế mạnh để định hướng xây dựng các sản phẩm OCOP, huyện đã khuyến khích các chủ thể ứng dụng KHKT, đổi mới công nghệ, thiết bị, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến... Đối với các sản phẩm đã được gắn sao, các chủ thể đã mạnh dạn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện kiểu dáng, bao bì sản phẩm... bảo đảm thị hiếu và nhu cầu của thị trường. Hằng năm, bên cạnh giám sát, hỗ trợ nâng cao chất lượng sản phẩm, huyện còn chú trọng hướng dẫn các chủ thể quảng cáo, tiêu thụ sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử, tham gia hàng chục hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh, nhất là hỗ trợ đưa các sản phẩm OCOP và sản phẩm lợi thế của huyện vào hệ thống siêu thị, hệ thống phân phối hiện đại...

Với sự quan tâm, hỗ trợ từ chính quyền địa phương, cùng sự chủ động, sáng tạo của các chủ thể, sản phẩm OCOP của Thiệu Hóa đang ngày càng khẳng định được vị thế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, nâng cao thu nhập và chất lượng sống cho người dân.

Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ

Trong thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, Nam Định đang khẳng định vị thế là “điểm sáng” của khu vực đồng bằng sông Hồng với chiến lược xây dựng chuỗi liên kết gắn với phát triển sản phẩm OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm). Không chỉ dừng lại ở việc phát huy lợi thế đặc sản địa phương, Nam Định đã biến chương trình OCOP thành “đòn bẩy” quan trọng để kiến tạo mô hình sản xuất hiện đại, kiểm soát chất lượng đầu vào, đầu ra, nâng cao giá trị nông sản và gia tăng năng lực cạnh tranh của kinh tế nông thôn.

Sản xuất sản phẩm OCOP “Xúc xích Sunny” tại Công ty TNHH Quý Thịnh (Hải Hậu).

Với quan điểm “hợp tác là nền tảng, công nghệ là động lực, thị trường là mục tiêu”, đến nay, tỉnh đã hình thành được 42 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Trong đó, có 14 chuỗi trồng trọt với 5 chuỗi sản xuất lúa gạo chất lượng cao, 1 chuỗi sản xuất, chế biến nấm, 7 chuỗi sản xuất rau, củ, quả; 15 chuỗi thủy sản bao gồm 8 chuỗi khai thác, chế biến hải sản và 7 chuỗi nuôi trồng, tiêu thụ thủy sản nước lợ; 10 chuỗi chăn nuôi, tập trung vào chế biến thịt lợn và bảo quản, tiêu thụ trứng gia cầm; 3 chuỗi lĩnh vực diêm nghiệp. Các chuỗi này đang hoạt động theo phương thức đồng bộ, minh bạch và có sự ràng buộc lợi ích giữa các chủ thể tham gia; phần lớn các chuỗi liên kết này đều gắn với sản phẩm OCOP - từ sản xuất đến chế biến, đóng gói, phân phối, không chỉ giúp kiểm soát chất lượng mà còn giúp giảm chi phí trung gian, gia tăng giá trị sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường trong nước và bước đầu định hướng để xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Công ty TNHH Toản Xuân (Ý Yên) đang sở hữu chuỗi liên kết sản xuất chế biến gạo chất lượng cao quy mô lớn (trên 1.000ha) với 10 hợp tác xã và 11 hộ nông dân các huyện Hải Hậu, Nam Trực, Ý Yên. Thực hiện quy trình sản xuất nghiêm ngặt khép kín từ thu hoạch đến chế biến, chuỗi liên kết đã tạo nên thương hiệu gạo sạch Toản Xuân với 1 sản phẩm OCOP 3 sao và 2 sản phẩm “Gạo sạch chất lượng cao Toản Xuân 999”, “Gạo sinh thái ruộng rươi” đang trình Trung ương đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao. Các sản phẩm trong chuỗi hiện được phân phối tại 34 tỉnh, thành phố với sản lượng 6.000 tấn/năm. Công ty TNHH Thủy sản Lenger Việt Nam (thành phố Nam Định) đã xây dựng thành công chuỗi liên kết nuôi, chế biến và tiêu thụ ngao sạch Lenger với vùng nguyên liệu nuôi ngao đạt chứng nhận ASC/CoC rộng 500ha, công nghệ chế biến hiện đại. Hiện Công ty có 3 sản phẩm được chứng nhận OCOP 4 sao và 1 sản phẩm “Nghêu thịt hộp Lenger” đang trình Trung ương đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP 5 sao. Các sản phẩm ngao sạch Lenger đã được bày bán rộng rãi ở các siêu thị, nhà hàng lớn tại nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt các siêu thị tại thành phố Hà Nội và xuất khẩu sang thị trường quốc tế như EU, Mỹ, Nhật Bản. Không chỉ tạo giá trị kinh tế cao, các chuỗi liên kết còn tạo sinh kế bền vững cho nhiều hộ dân vùng biển... Nông sản Nam Định không còn là những sản phẩm nông nghiệp đơn lẻ, thiếu định vị mà là những sản phẩm được liên kết sản xuất chặt chẽ theo chuỗi giá trị, sẵn sàng bước vào “cuộc chơi lớn” với sự chuẩn hóa về chất lượng, thương hiệu và mô hình vận hành.

Để thúc đẩy việc phát triển sản phẩm OCOP từ chuỗi liên kết sản xuất, tỉnh đã triển khai hàng loạt chính sách đồng bộ, thiết thực, hỗ trợ toàn diện, từ khâu tổ chức sản xuất, ứng dụng công nghệ đến tiêu thụ và xây dựng thương hiệu. Trong đó, đã tập trung hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng hợp đồng liên kết, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và định hướng phát triển sản phẩm OCOP, giúp các chủ thể có tầm nhìn dài hạn, tránh tình trạng làm theo phong trào hoặc bị động theo biến động thị trường. Tập trung chuyển giao công nghệ, áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất tiên tiến như VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO nâng cao chất lượng các sản phẩm, đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các thị trường trong và ngoài nước. Công tác xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu cũng được đẩy mạnh qua các hội chợ, triển lãm, chương trình kết nối cung cầu và nền tảng thương mại điện tử.

Bên cạnh đó, tỉnh chỉ đạo các sở, ngành tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản trị, kinh doanh cho cán bộ HTX và doanh nghiệp, đồng thời xây dựng mạng lưới chuyên gia hỗ trợ các tổ chức tham gia OCOP. Việc đầu tư cho “lực lượng vận hành” sẽ là điều kiện cần để các chuỗi liên kết phát triển bền vững. Thành công của các chuỗi liên kết là tiền đề quan trọng để tỉnh tiếp tục nâng cao “chất” và “lượng” sản phẩm OCOP. Đến nay, toàn tỉnh có tổng cộng 534 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, trong đó có 1 sản phẩm đạt OCOP 5 sao, 3 sản phẩm đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị Trung ương công nhận OCOP 5 sao, 65 sản phẩm OCOP 4 sao và 465 sản phẩm OCOP 3 sao.

Thời gian tới, tỉnh tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp, HTX, nông dân sản xuất xanh, tuần hoàn, thân thiện với môi trường, liên kết theo chuỗi hướng tới phát triển bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình từ sản xuất, truy xuất nguồn gốc, quản lý chất lượng đến giới thiệu và bán hàng trên các nền tảng số. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông; thúc đẩy xúc tiến thương mại; hỗ trợ xúc tiến thương mại điện tử. Tư vấn, hỗ trợ toàn diện cho chủ thể OCOP, đặc biệt là hỗ trợ thiết kế lại bao bì, cải tiến nhãn mác, giúp sản phẩm có diện mạo chuyên nghiệp, dễ nhận diện và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng hiện đại…

Có thể nói, việc xây dựng thành công các chuỗi liên kết gắn với phát triển sản phẩm OCOP không chỉ là giải pháp kỹ thuật - kinh tế mà còn là chiến lược phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, bền vững. Từ những sản phẩm làng quê, Nam Định đã kiến tạo thương hiệu nông nghiệp mang bản sắc riêng với tầm nhìn quốc gia, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên hội nhập bằng chính nội lực./.

Theo Báo Dân Việt 

← Bài trước Bài sau →
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Bình luận