Phát triển kinh tế số: Cơ hội cho nông sản Việt vươn xa

Phát triển kinh tế số: Cơ hội cho nông sản Việt vươn xa

Năm 2025, chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế số tại nông thôn, khi người nông dân không còn chỉ làm nông, mà còn làm thương mại, marketing, thậm chí kêu gọi vốn đầu tư qua nền tảng số.

Tuy nhiên, để kinh tế số nông nghiệp thực sự phát triển bền vững, vẫn còn nhiều rào cản về hạ tầng, kỹ năng và khoảng cách số cần được thu hẹp.

Nông dân tham gia kinh tế số

Từ những buổi chợ truyền thống, người nông dân giờ đây đã bước lên không gian số, nơi livestream thay cho tiếng rao, đơn hàng chốt qua bình luận và thanh toán chỉ bằng vài cú chạm điện thoại. Sự thay đổi không chỉ đến từ cách thức bán hàng mà từ tư duy tiếp cận người tiêu dùng: trực diện, chân thật và đầy bản sắc.

Tại Bắc Ninh, để đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều trên các nền tảng số, Sở Công Thương phối hợp cùng Công ty Sendo Farm và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn công nghệ TikTok Việt Nam tổ chức “Tuần lễ vải thiều - Tự hào nông sản Việt”. Sở Công Thương đã kết nối danh sách các nhà vườn, hợp tác xã có sản phẩm đạt tiêu chuẩn theo vùng chỉ dẫn địa lý được phía Nhật Bản công nhận; sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn nông dân, hợp tác xã về kỹ thuật thu hoạch, sơ chế, đóng gói, bảo quản để vải thiều bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, vệ sinh an toàn đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu...

Tại chương trình TikTok Việt Nam và Sendo Farm đã đưa vải thiều Lục Ngạn lên siêu thị trực tuyến và livestream đa nền tảng để quảng bá, tiếp cận người tiêu dùng nhanh chóng.

Đặc biệt, lần đầu tiên lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh trực tiếp cùng các nhà sáng tạo nội dung tham gia phiên livestream ngay tại vườn vải, hỗ trợ bà con tiêu thụ nông sản.

Trong 6 giờ phát trực tuyến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh cùng cộng sự đã "chốt đơn" thành công hơn 54 tấn vải thiều Lục Ngạn.

Ông Phạm Văn Thịnh – Phó Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh giới thiệu trái vải tới những người xem trực tiếp trên toàn quốc. (Ảnh: TikTok Shop)

Hiện nay, đã có nhiều hộ gia đình, hợp tác xã đã biến nông sản thành sản phẩm truyền thông vừa kể chuyện mùa vụ, vừa giới thiệu cách làm ra sản phẩm sạch, chuẩn, đậm chất địa phương. Livestream giúp người nông dân phá bỏ giới hạn địa lý, tiếp cận khách hàng ở đô thị, thậm chí từ nước ngoài.

Không chỉ bán hàng, nông dân giờ đây còn biết gọi vốn, một khái niệm từng rất xa vời với vùng quê. Trên các nền tảng số, người trồng rau, nuôi gà có thể giới thiệu kế hoạch mùa vụ, cam kết chất lượng và mời gọi người tiêu dùng tham gia góp vốn, đặt hàng sớm, đồng hành từ khi gieo trồng đến lúc thu hoạch.

Một số hợp tác xã thậm chí xây dựng các “nông trại chia sẻ”, nơi người mua được cập nhật quá trình canh tác qua ảnh, video trực tiếp, truy xuất nguồn gốc minh bạch bằng công nghệ blockchain. Đây không còn là câu chuyện thử nghiệm mà đang dần trở thành một mô hình sản xuất – kinh doanh kết hợp niềm tin và dữ liệu.

Sự tham gia của các startup nông nghiệp số, các nền tảng thương mại điện tử nông sản và hệ thống logistics nông thôn là lực đẩy mạnh mẽ cho chuyển đổi số ở vùng quê. Tuy nhiên, bên dưới làn sóng này, vẫn tồn tại không ít điểm nghẽn: từ kỹ năng số hạn chế của người dân, sự thiếu hụt nhân lực hỗ trợ tại chỗ, đến hạ tầng mạng còn chưa đồng đều giữa các địa phương.

Không ít nông dân vẫn chưa thực sự tin tưởng vào giao dịch số, e dè với việc sử dụng tài khoản ngân hàng, ví điện tử hay ký kết số. Một số nơi bắt đầu với nhiệt huyết nhưng thiếu hướng dẫn, thiếu nguồn lực duy trì, dẫn đến các mô hình bị đứt gãy sau một thời gian ngắn.

Việc người nông dân livestream bán hàng hay gọi vốn qua nền tảng số là dấu hiệu tích cực nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu. Để nền kinh tế số thực sự bén rễ tại nông thôn, cần một hệ sinh thái đồng bộ: từ đào tạo kỹ năng, đầu tư hạ tầng, đến chính sách hỗ trợ tín dụng, bảo hiểm mùa vụ và logistics hậu cần.

Tuy nhiên, nông dân không thể số hóa một mình. Sự đồng hành của doanh nghiệp, chính quyền và các tổ chức xã hội là điều kiện để mọi mô hình nông nghiệp số phát triển bền vững, tránh tình trạng “thành phố hóa nửa vời” trong không gian mạng.

Từ ruộng vườn đến sàn thương mại điện tử, người nông dân không còn đứng bên lề. Năm 2025, không chỉ là thời điểm kinh tế số lan rộng đến nông thôn mà còn là thời điểm người nông dân khẳng định vai trò chủ thể trong nền kinh tế mới. Từ ruộng vườn đến sóng livestream, từ buổi chợ truyền thống đến sàn thương mại số, hành trình chuyển đổi ấy cần nhiều hơn sự kết nối: là kết nối về niềm tin, về tri thức và về tương lai nông thôn chủ động vươn mình trong kỷ nguyên số hóa.

Kinh tế số nông thôn ở Điện Biên

Trong làn sóng chuyển đổi số, Điện Biên - tỉnh miền núi, biên giới cũng đang từng bước đưa công nghệ số đến hộ gia đình. Từ nông sản đặc trưng được rao bán trên sàn thương mại điện tử, đến các khoản thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, kinh tế số đã và đang thâm nhập sâu vào đời sống.

Vài năm trở về trước, với phần lớn người dân nông thôn và miền núi trên địa bàn tỉnh, khái niệm “kinh tế số” còn rất xa lạ. Tuy nhiên, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các cấp, sự đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp viễn thông, nhiều nông dân đã dần quen với việc sử dụng điện thoại thông minh để bán hàng online, thanh toán điện tử, truy cập thông tin thị trường hay quảng bá sản phẩm địa phương.

Người dân Điện Biên Phủ thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua ứng dụng ngân hàng.

Các lớp tập huấn, tuyên truyền về chuyển đổi số được tổ chức đến tận các thôn, bản. Đội ngũ cán bộ cơ sở, đoàn viên thanh niên được giao nhiệm vụ hướng dẫn tận tay người dân cách tạo tài khoản trên các nền tảng thương mại điện tử như: Postmart, zalo, facebook... Qua đó, các mặt hàng nông sản như: gạo, mắc khén, thịt trâu gác bếp, mật ong... đã tiếp cận thị trường rộng lớn ngoài tỉnh, tăng thu nhập cho người dân.

Hợp tác xã Ong mật Điện Biên là trường hợp tiêu biểu cho hiệu quả của chuyển đổi số trong phát triển kinh tế nông thôn. Với sản lượng hơn 70 tấn mật ong thô mỗi năm, trước đây, hợp tác xã chủ yếu tiêu thụ qua các kênh truyền thống như chợ, đại lý hoặc bán lẻ trong tỉnh. Từ khi được hướng dẫn tài khoản trên sàn thương mại điện tử, sử dụng mạng xã hội để tiếp thị và áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, sản phẩm mật ong của hợp tác xã đã tiếp cận được nhiều thị trường ngoài tỉnh, kể cả các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, nhiều người dân đã sử dụng ví điện tử, tài khoản ngân hàng để thanh toán tiền điện, nước, học phí hoặc nhận hỗ trợ an sinh xã hội. Đây là tiền đề quan trọng giúp Điện Biên xây dựng nền kinh tế số bền vững và toàn diện. Với cách làm bài bản, phù hợp đặc thù địa phương, nhiều hộ gia đình đã nhận rõ những thay đổi tích cực mà kinh tế số mang lại.

Dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực song phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh vẫn còn không ít khó khăn. Hạ tầng viễn thông ở một số khu vực còn hạn chế, tỷ lệ người dân có điện thoại thông minh còn thấp, hiện toàn tỉnh còn 30% người dân chưa có điện thoại thông minh; 84 bản chưa có dịch vụ viễn thông, 261 bản chưa có dịch vụ internet băng rộng cố định. Một bộ phận dân cư còn e dè, chưa chủ động ứng dụng các dịch vụ công trực tuyến...

Khai thác hiệu quả các nền tảng số để nâng cao chất lượng cuộc sống đã phát triển trong những năm gần đây. Tuy nhiên, với nhiều người dân tộc thiểu số ở vùng cao, đây mới chỉ là sự khởi đầu. Để khắc phục, tỉnh xác định tiếp tục tăng cường đầu tư hạ tầng số, mở rộng vùng phủ sóng internet, nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng số cho người dân, đồng thời xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia hỗ trợ cộng đồng. Tổ chức nhiều lớp tập huấn sát thực tế, “cầm tay chỉ việc”, ưu tiên phụ nữ và người cao tuổi; xây dựng mô hình hộ gia đình số điển hình.

Phát triển kinh tế số nông thôn, hộ gia đình không chỉ là xu hướng tất yếu, mà còn là con đường thiết thực để người dân Điện Biên nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống. Khi từng người dân vùng cao biết khai thác lợi thế công nghệ, từng đặc sản bản địa được số hóa và kết nối với thị trường rộng lớn sẽ mang lại nhiều lợi ích, cả về mặt kinh tế và xã hội.

Ninh Bình thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp, nông thôn

Thời gian qua, các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã thích ứng với sự phát triển của công nghệ số, từng bước làm chủ về công nghệ, chủ động tiếp cận, xây dựng các sản phẩm và sáng tạo các dịch vụ, giải pháp, mô hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệ số, tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.

HTX sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (Tam Điệp) gắn tem truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị sản phẩm.

Ứng dụng công nghệ thông minh vào nuôi trồng thủy sản theo quy trình VietGAP trên diện tích hơn 20 nghìn m2 mặt nước, mô hình kinh tế của gia đình ông Bùi Đức Thịnh, thôn Hoàng Quyển, xã Gia Hòa đã phát huy hiệu quả, đạt năng suất cao, hướng tới phát triển bền vững. Hàng năm, mô hình cho thu nhập trên 3,6 tỷ đồng, trừ chi phí, ông thu lãi từ 500-600 triệu đồng. Ông Bùi Đức Thịnh trở thành một trong 100 nông dân tiêu biểu nhận danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2023”.

Ông Bùi Đức Thịnh cho biết: Trước đây, tôi sử dụng thiết bị điện tạo oxy, máy cho cá ăn bấm bằng tay. Từ năm 2018, tôi đã áp dụng hệ thống điều khiển từ xa, khi ở bất cứ nơi đâu cũng có thể điều khiển được máy guồng oxy, máy quạt nước, máy cho cá ăn, máy bơm nước... tại 3 ao nuôi cá. Khi vận hành hệ thống điều khiển từ xa giúp tôi thuận tiện trong chăn nuôi, giảm nhân công, chủ động được thời gian chăm sóc cá. Trước đây, nuôi thủ công, mỗi năm gia đình tôi thu được 3 tấn cá, nhờ ứng dụng công nghệ thông minh, hiện tôi thu 80 tấn cá/năm. Xác định xây dựng nền kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hiện nay nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp, nông dân đã và đang đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm trên môi trường số, tạo thị trường rộng lớn, nâng cao sản lượng hàng hóa cũng như giá trị sản phẩm.

Chị Tống Thị Thủy, Phó Giám đốc Công ty TNHH sản xuất và phân phối thực phẩm An Phú, xã Kim Chính cho biết: Bên cạnh việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại bằng hình thức giới thiệu sản phẩm trực tiếp tại các hội chợ, hội nghị, tôi đã đưa sản phẩm Cơm cháy Cung Đình lên các nền tảng số. Trong đó, giúp tiêu thụ mạnh nhất là các trang mạng xã hội Facebook, Zalo chiếm khoảng 70%, còn lại là xúc tiến thương mại trực tiếp.

Ứng dụng chuyển đổi số trong bán hàng đã mang lại nhiều ưu điểm hơn so phương thức bán truyền thống, như: Mở rộng thị trường tiêu thụ, giảm chi phí đi lại, chi phí thuê mặt bằng, thuê nhân viên bán hàng... Tuy nhiên, do không được tiếp cận trực tiếp với sản phẩm nên người bán cần phải có ý thức giữ uy tín để tạo thương hiệu từ hình ảnh, số lượng, chất lượng sản phẩm phải đúng với nội dung đăng bán thì khách hàng mới quay lại với mình.

Chủ động chuyển mình, thay đổi tư duy, tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và công nghệ cao vào sản xuất, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, nhiều nông dân đã trở thành những tỷ phú, chủ doanh nghiệp, tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương, góp phần thực hiện thành công tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới thông minh.

Hiện, đẩy mạnh chuyển đổi số đang được tỉnh xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế-xã hội. Để hỗ trợ thúc đẩy kinh tế số, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 142/ KH-UBND ngày 31/8/2021 về việc phát triển doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030 nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh từng bước làm chủ về công nghệ, chủ động tiếp cận, xây dựng các sản phẩm và sáng tạo các dịch vụ, giải pháp, mô hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệ số, tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số tỉnh Ninh Bình nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn tỉnh.

Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp

Công cuộc chuyển đổi số nông nghiệp đang diễn ra trên thế giới với tốc độ cao, giúp tăng năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Việt Nam, việc ứng dụng nền tảng số hóa nông nghiệp được thực hiện trên nhiều khía cạnh như: dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật (IoT), robot, trí tuệ nhân tạo (AI)... đã bước đầu tác động tới nhiều mặt của nền sản xuất, mở ra cơ hội mới cho nông nghiệp Việt Nam vươn tầm lớn mạnh.

Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nông nghiệp được xác định là một trong tám lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số. Mục tiêu là phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, tăng tỷ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số và Thống kê nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thực hiện chuyển đổi số trong nông nghiệp phải dựa trên nền tảng dữ liệu.

Để làm được điều đó, cần thực hiện số hóa dữ liệu ngành bằng cách đẩy mạnh phát triển các nền tảng số, ứng dụng số, hệ thống dữ liệu lớn về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy sản, thủy lợi, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, thị trường,... kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, trung tâm dữ liệu quốc gia một cách thống nhất, đồng bộ. Từ đó, làm cơ sở cho việc phân tích, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư chuyển đổi số, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác.

Tuy nhiên, việc này gặp khó khăn do hiện tại chưa có các quy định riêng về dữ liệu ở mức luật; các quy định về dữ liệu còn lồng trong các văn bản, quy định hướng dẫn về ứng dụng công nghệ thông tin; dữ liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ còn rời rạc, cục bộ, khép kín trong phạm vi của đơn vị; dữ liệu mở cơ bản tăng về số lượng nhưng chưa khai thác, sử dụng được do không ở định dạng máy có thể đọc; các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ cũng chưa chủ động, tự nguyện mở dữ liệu để khai thác, sử dụng do lo ngại về tính đầy đủ, chính xác của dữ liệu.

Do đó, khi kỳ họp thứ 9, Quốc hội XV thông qua các luật như: Luật Công nghiệp công nghệ số; Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân,… sẽ góp phần xây dựng các bộ dữ liệu, chuẩn dữ liệu số giúp ngành Nông nghiệp chuyển đổi số bền vững…

Để thúc đẩy nhanh chóng tiến trình chuyển đổi số ngành Nông nghiệp, bên cạnh xây dựng hạ tầng dữ liệu, việc phát triển hạ tầng công nghệ số là cần thiết. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hạ tầng công nghệ số của nước ta hiện nay còn lạc hậu, chi phí cao trong khi thực hiện chuyển đổi số đòi hỏi phải có hạ tầng số đồng bộ, hiện đại.

Chi phí dịch vụ viễn thông 3G, 4G còn cao, chưa tạo cơ hội cho nông sản ở vùng sâu, vùng xa kết nối trực tiếp với hệ thống thương mại điện tử cũng như gây khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Do đó, cần có chính sách phát triển hạ tầng phục vụ phát triển IoT trong triển khai Chính phủ số và phát triển kinh tế số nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn số, nông dân số; Xây dựng lộ trình và triển khai số hóa, thông minh hóa hạ tầng trong quản lý, sản xuất và kinh doanh nông nghiệp.

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, chuyển đổi số sẽ giúp ngành Nông nghiệp giảm được rất nhiều chi phí. Thực tế, Việt Nam có nhiều doanh nghiệp công nghệ có đủ năng lực giúp ngành Nông nghiệp chuyển đổi số thành công, thực hiện tiết kiệm chi phí.

Do đó, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, cần có cơ chế phối hợp giữa các doanh nghiệp này với ngành nông nghiệp trên cơ sở ngành nông nghiệp cung cấp dữ liệu nông nghiệp và doanh nghiệp cung cấp lại cho ngành nông nghiệp các sản phẩm dưới dạng dịch vụ số. Tiếp đến là triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thực hiện chuyển đổi số, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trên cả bề rộng và chiều sâu, đẩy mạnh hơn nữa quá trình gia tăng giá trị của toàn ngành nông nghiệp.

Theo Kinh Tế Nông Thôn 
← Bài trước Bài sau →
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Bình luận