Nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt: Ứng dụng công nghệ xanh

Nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt: Ứng dụng công nghệ xanh

Tại Hội nghị khoa học, công nghệ bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản và cơ giới hóa nông nghiệp toàn quốc năm 2025, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: “Khoa học, công nghệ không chỉ là động lực mà còn là then chốt để nông nghiệp phát triển bền vững. Với tinh thần đổi mới sáng tạo cùng sự đồng hành của các nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân, tôi tin tưởng nông nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục vươn lên, khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế”.

Nông sản Việt khẳng định vị thế

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, một thập kỷ qua, nông nghiệp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định 2,5–3,5%/năm. Năm 2024, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kỷ lục 62,5 tỷ USD, tăng gần 19% so với năm 2023, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến

Cơ cấu ngành đã có chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chế biến tăng, nông nghiệp xanh, tuần hoàn và chuyển đổi số ngày càng rõ nét. Công nghệ bảo quản, chế biến đã giúp giảm tổn thất sau thu hoạch 5-10%, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Cơ giới hóa nông nghiệp tiến mạnh, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt trên 95%, nhiều mô hình ứng dụng drone, IoT, trí tuệ nhân tạo, robot… đã được triển khai, góp phần tăng năng suất, giảm chi phí.

Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế, tỷ lệ thất thoát ở rau quả, thủy sản vẫn cao; cơ giới hóa thiếu đồng bộ; doanh nghiệp chế biến đa phần quy mô nhỏ, thiếu liên kết và sức cạnh tranh.

Công nghệ mới mở đường cho nông sản Việt chinh phục thế giới

Khoa học, công nghệ không chỉ là động lực mà còn là then chốt để nông nghiệp phát triển bền vững. Tại Hội nghị khoa học, công nghệ bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản và cơ giới hóa nông nghiệp toàn quốc năm 2025, TS. Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh, kinh tế tuần hoàn mang lại lợi ích đa chiều: giảm chất thải, tiết kiệm tài nguyên (môi trường); cắt giảm chi phí đầu vào, tăng giá trị đầu ra (kinh tế); tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống (xã hội).

Những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định và chương trình hành động, hình thành khung chính sách khá đầy đủ để thúc đẩy nông nghiệp tuần hoàn. Thực tế, nhiều mô hình đã được áp dụng từ quy mô doanh nghiệp, hợp tác xã đến nông hộ, bước đầu hình thành hệ sinh thái tuần hoàn.

Tuy vậy, vẫn còn những hạn chế: nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng chưa đầy đủ; chính sách hỗ trợ còn phân tán, chưa có chương trình riêng; tỷ lệ tái sử dụng phụ phẩm thấp, cụ thể trồng trọt mới đạt 52%, lâm nghiệp đạt khoảng 50%.

Đặc biệt, mô hình tuần hoàn hiện chủ yếu nằm ở doanh nghiệp lớn, chưa tạo thành chuỗi liên kết giá trị, trong khi nghiên cứu, chuyển giao và đầu tư khoa học – công nghệ còn hạn chế.

Ở góc độ thị trường, yêu cầu về sản phẩm xanh ngày càng gia tăng tại EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ... Đây vừa là áp lực, vừa là động lực để doanh nghiệp Việt Nam đổi mới theo hướng tuần hoàn.

Chế biến nông sản gắn với vùng nguyên liệu địa phương ở Lâm Đồng

Về giải pháp, ông Phong cho biết Bộ đã ban hành bốn chương trình hành động cho trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp, tạo cơ sở triển khai khoa học – công nghệ gắn với hành động cụ thể. Song song, cần xây dựng bộ tiêu chí sản xuất tuần hoàn, cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), phát triển tín dụng xanh và ưu tiên doanh nghiệp đạt chuẩn xanh trong tiếp cận vốn, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu.

Ngoài ra, các mô hình liên kết hợp tác xã (HTX) – doanh nghiệp cần được ưu tiên để hình thành hệ sinh thái tuần hoàn gắn với vùng sản xuất tập trung và chế biến. Một nhiệm vụ cấp thiết khác là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế tuần hoàn, tạo nền tảng thông tin minh bạch cho doanh nghiệp, HTX và người dân. Đồng thời, cần huy động nguồn lực ngân sách, ODA và hỗ trợ quốc tế cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ bảo quản, chế biến tiên tiến, qua đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Ở góc độ nghiên cứu, GS, TS Lê Văn Tán (Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh) nhấn mạnh, nếu Việt Nam chậm tiếp cận và ứng dụng công nghệ xanh, sẽ khó giữ vững vị trí trên bản đồ xuất khẩu nông sản toàn cầu trong 10 năm tới.

GS, TS Lê Văn Tán chỉ ra ba xu hướng lớn: phát triển kinh tế tuần hoàn và hệ sinh thái thông minh; ứng dụng công nghệ cao trong chế biến nông sản; kết nối công nghệ liên ngành nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị.

Nhiều công nghệ tiên tiến đang được nghiên cứu và bước đầu áp dụng như siêu âm cường độ cao, plasma lạnh, xử lý áp suất cao, điện trường xung… giúp kéo dài thời hạn bảo quản, duy trì giá trị dinh dưỡng. Thách thức lớn hiện nay là chi phí thiết bị và khả năng triển khai ở quy mô sản xuất.

"Trong thời gian tới, Việt Nam cần đặc biệt quan tâm và đầu tư để từng bước thương mại hóa các công nghệ này, bởi đây sẽ là yếu tố quyết định giúp ngành nông nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng tiêu chuẩn xanh toàn cầu", ông Lê Văn Tán khuyến nghị.

Cần hoàn thiệu thể chế, chính sách

Trong bối cảnh hiện nay, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, việc kết nối "bốn nhà": Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp – Nhà nông là điều rất quan trọng và cần thiết, nhằm tìm giải pháp ứng dụng công nghệ giảm tổn thất, phát triển cơ giới hóa đồng bộ, thúc đẩy chuyển đổi số và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh thêm, khoa học công nghệ là chìa khóa để xây dựng nền nông nghiệp bền vững, hiệu quả. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác định một số định hướng lớn trong giai đoạn tới.

Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới. Bên cạnh đó, Bộ sẽ phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp vùng, gắn kết chặt chẽ viện – trường – doanh nghiệp để thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Ngoài ra, hợp tác quốc tế sẽ được mở rộng, nhất là trong các lĩnh vực chế biến sâu, logistics và cơ giới hóa thông minh. Đồng thời, Bộ chú trọng thúc đẩy xã hội hóa nghiên cứu khoa học, huy động nguồn lực từ ngoài ngân sách, tạo động lực mới cho đổi mới sáng tạo. Việc xây dựng mô hình chuỗi giá trị nông sản ứng dụng công nghệ cao, minh bạch nguồn gốc cũng là mục tiêu trọng tâm để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

Theo kinhtenongthon.vn
← Bài trước Bài sau →
This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Bình luận